thuabandau_174@gmail.com

Ngồi chờ đợi cơ hội ghé ngang Đừng nằm mơ giữa ban ngày Hãy đứng lên để bước đi Để đam mê được bay xa thật xa!!!


You are not connected. Please login or register

TIẾNG ANH (ĐÁP TRẢ LỜI TỪ UNIT 4 - HẾT)

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down  Thông điệp [Trang 1 trong tổng số 1 trang]

Admin


Admin
UNIT 5: MAINFRAMES (Máy tính lớn)
Các ý chính trong bài
- There are three types of mainframes.
Có ba loại máy tính lớn.
- Mainframes are very powerful and can execute jobs very rapidly and easily.
Máy tính lớn có công suất lớn và có thể thực hiện được các tác vụ nhanh chóng và dễ dàng.
- Digital Computers are used more than analogue computers.
Các máy tính số được sử dụng nhiều hơn các máy tính tương tự.
- The hybrid computer is combination of both the digital and the analogue computer.
Máy tính lai là một sự kết hợp giữa máy tính số và máy tính tương tự.
- Mainframes are huge powerful machines whose peripheral equipment takes up a lot of
space.
Máy tính lớn là loại máy có công suất lớn mà thiết bị ngoại vi của chúng cũng chiếm nhiều diện tích chỗ chứa chúng.
- Mainframes are expensive to buy and to operate.
Phải mất nhiều tiền để mua và sử dụng máy tính lớn.
Bài khoá
[1] Large computer systems, or mainframes, as they are referred to in the field of computer science, are those computer systems found in computer installations processing immense amounts of data. These powerful computers make use of very high-speed main memories into which data and programs to be dealt with are transferred for rapid access. These powerful machines have a larger repertoire of more complex instructions which can be executed more quickly. Whereas smaller computers may take several steps to perform a particular operation, a larger machine may accomplish the same thing with one instruction.

[2] These computers can be of two types: digital or analog. The digital computer or general
purpose computer as it is often known, makes up about 90 percent of the large computers now in
use. It gets its name because the data that are presented to it are made up of code consisting of
digits single character numbers. The digital computer is like a gigantic cash register in that it can
do calculations in steps, one after another at tremendous speed and with great accuracy. Digital
computer programming is by far the most commonly used in electronic data processing for
business or statistical purposes. The analog computer works something like a car speedometer, in that it continuously works out calculations. It is used essentially for problems involving measurements. It can simulate, or imitate different measurements by electronic means. Both of these computer types the digital and the analog - are made up of electronic components that may require a large room to accommodate them. At present, the digital computer is capable of doing anything the analog once did. Moreover, it is easier to program and cheaper to operate. A new type of scientific computer systems called the hybrid computer has now been produced that combines the two types into one.
[3] Really powerful computers continue to be bulky and require special provision of their housing, refrigeration systems, air filtration and power suppliers. This is because much more space is taken up by the input output devices the magnetic tape and disk unit and other peripheral equipment than by the electronic components that do not make up the bulk of the machine in powerful installation. The power consumption of these machines is also quite high, not to mention the price that runs into hundreds of thousands of dollars. The future will bring great developments in the mechanical devices associated with computer systems. For a long time these have been the weak link, from the point of view of both efficiency and reliability.
Bài Dịch
1. Những hệ thống máy tính lớn, hay còn được gọi là máy tính trong lĩnh vực khoa học máy tính, là hệ thống máy tính được tìm thấy tại các trung tâmmáy tính, xử lý khối lượng dữ liệu khổng lồ. Những cỗ máy mạnh mẽ này sử dụng bộ nhớ chính có tốc độ rất cao, nơi dữ liệu và chương trình nào cần làm việc sẽ được chuyển vào để truy cập nhanh. Máy tính lớn còn có một tập hợp lớn hơn gồm nhiều chỉ thị phức tạp hơn có thể được thi hành nhanh chóng hơn. Trong khi máy tính nhỏ, muốn thực hiện một hoạt động cụ thể nào đó, có thể phải thi hành qua nhiều bước, còn máy tính lớn chỉ cần một chỉ thị là đã hoàn thành hoạt động tương tự.
2. Máy tính lớn có hai loại: Máy tính kỹ thuật số và máy tính tương tự. Máy tính kỹ thuật số
hay thường được biết đến với cái tên máy tính đa năng, chiếm khoảng 90% số lượng máy tính lớn
đang sử dụng hiện nay. Sở dĩ nó mang tên kỹ thuật số là bởi vì dữ liệu đưa vào máy được cấu
thành từ một mã bao gồm nhiều chữ số. Máy tính kỹ thuật số giống như một cỗ máy tính khổng lồ,
ở đó có thể thực hiện tính toán theo từng bước, bước này sau bước kia với tốc độ rất lớn và độ
chính xác cao. Việc lập trình máy tính kỹ thuật số hiện trở nên thông dụng nhất trong xử lý dữ liệu
điện tử nhằm mục đích kinh doanh và thống kê. Máy tính tương tự hoạt động na ná như đồng hồ đo tốc độ của xe ô tô ở chỗ nó thưc hiện tính toán một cách liên tục. Máy tính tương tự chủ yếu để giải các bài toán liên quan đến đo lường. Nó có thể mô phỏng hoặc bắt chước các kiểu đo lường khác nhau bằng phương tiện
điện tử. Cả hai lọai máy tính - Máy tính kỹ thuật số và máy tính tương tự- đều được cấu thành từ các linh kiện điện tử nhiều đến mức phải cần một căn phòng lớn mới có thể chứa hết chúng. Ngày nay máy tính kỹ thuật số có khả năng làm bất cứ công việc nào mà máy tính tương tự từng làm. Hơn nữa nó lại rất dễ lập trình, đồng thời vận hành với giá rẻ hơn. Giờ đây người ta đã sản xuất một dạng hệ thống máy tính khoa học mới gọi là máy tính lai, kết hợp cả hai loại máy tính trên là một.
3. Những máy tính thật sự mạnh vẫn còn rất cồng kềnh và đòi hỏi sự chuẩn bị đặc biệt về
nơi lắp đặt, hệ thống lạnh, hệ thống lọc không khí và nguồn điện. Lý do là các thiết bị đầu nhập,
đầu xuất, những bộ phận băng và đĩa từ, cùng các trang thiết bị ngoại vi khác chiếm nhiều diện
tích hơn số linh kiện điện tử vốn không chịu trách nhiệm về sự cồng kềnh trong lắp đặt. Sự tiêu
thụ năng lượng của những cỗ máy này cũng cao, chưa kể đén giá cả lên tới hàng trăm đô la. Trong
tương lai, nhất định sẽ có sự phát triển vượt bậc ở những thiết bị cơ học có phối hợp với hệ thống
máy tính. Từ xưa, đây vẫn là mối quan hệ lỏng lẻo, yếu kém xét theo phương diện tính hiệu quả
đến mức độ tin cậy.
UNIT 6: CENTRAL PROCESS UNIT
Các ý chính trong bài:
- The CPU is composed of the arithmetic-logical unit and control unit only. Bộ sử lý trung tâm chỉ bao gồm bộ phận logic số học và bộ điều khiển.
- The CPU is responsible for all the activities taking place within a computer. CPU quản lý tất cả các thao tác diễn ra trong một máy tính.
- The processor can not operate on any information if the information is not in main storage.
Bộ sử lý không thể khai thác thông tin nếu thông tin không có trong bộ nhớ chính.
- Only after the data has been processed by the CPU can results be transmitted to an output
device.
Chỉ sau khi số liệu đã được sử lý thì nó mới có thể được chuyển ra thiết bị ngoại vi.

Bài khoá:
It is common practice in computer science for the words "computer" and "processor" to be used interchangeably. More precisely, "computer" refers to the central processing unit (CPU) together with an internal memory. The internal memory or main storage, control and processing components make up the heart of the computer system. Manufacturers design the CPU to control and carry out basic instructions for their particular computer.
The CPU coordinates all the activities of the various components of the computer. It determines which operations should be carried out and in what order. The CPU can also retrieve information from memory and can store the results of manipulations back into the memory unit for later reference.
In digital computers the CPU can be divided into two functional units called the control unit (CU) and the arithmetic - logical unit (ALU).
These two units are. made up of electronic circuits with millions of switches that can be in one of two states, either on or off.
The function of the control unit within the central processor is to transmit coordinating
control signals and commands. The control unit is that portion of the computer that directs the
sequence or step-by-step operations of the system, selects instructions and data from memory,
interprets the program instructions, and controls the flow between main storage and the arithmetic
- logical unit.
The arithmetic - logical unit, on the other hand, is that portion of the computer in which the actual arithmetic operations, namely, addition, subtraction, multiplication, division and exponentiation, called for in the ' instructions are performed. It also performs some kinds of logical operations such as comparing or selecting information. All the operations of the ALU are under the direction of the control unit.
Programs and the data on which the control unit and the ALU operate, must be in internal memory in order to be processed. Thus, if located on : secondary memory devices such as disks or tapes, programs and data and ftrst loaded into internal memory.
Main storage and the CPU are connected to a console, where manual control operations can be performed by an operator. The console is an important, but special purpose, piece of equipment. It is used mainly when the computer is being started up, or during maintenance and repair. Many mini and micro systems do not have a console.

Bài Dịch
1. Trong ngành máy tính, người ta thường dùng các từ máy tính và bộ xử lý để thay thế cho
nhau. Nói một cách chính xác hơn, máy tính chỉ bộ xử lý trung tâm cùng với bộ nhở bên
trong. Bộ nhớ bên trong chính là bộ nhớ chính, mà các thành phần điều khiển và xử lý
tạo thành cốt lõi của hệ thống máy tính. Các nhà sản xuất thiết kế CPU để điều khiển và
thực hiện các lệnh cơ bản cho máy tính của riêng họ.
2. CPU phối hợp các hoạt động của các bộ phận khác trong máy tính. Nó quyết định nên
thực hiện phép toán gì và theo thứ tự nào. CPU cũng có thể truy xuất thông tin từ bộ nhớ
và lưu kết quả vận hành trở lại bộ nhớ để tham khảo về sau.

3. Trong máy tính kỹ thuật số, CPU có thể được chia thành hai bộ phận chức năng, gọi là bộ
điều khiển, bộ logic học. Hai bộ nhớ được tạo bởi các mạch điện tử có thể ở một trong
hai trạng thái đóng hoặc ngắt.
4. Chức năng của bộ điều khiển trong phạm vi bộ xử lý trung tâm là chuyển đi các tín hiệu
và các lệnh điều khiển kết hợp. Bộ điều khiển là một phần của máy tính chỉ đạo những
thao tác tuần tự hay những thao tác từng bước một của hệ thống, chọn lệnh và dữ liệu từ
bộ nhớ, dịch các lệnh và quản lý dữ liệu giữa bộ lưu trữ chính và bộ logic học.
5. mặt khác bộ logic học là một phần của máy tính trong đó các phép tính số học như cộng
trừ nhân chia và luỹ thừa được thực hiện theo lệnh và chỉ thị. Nó cũng thực hhiện một số
phép toán logic chẳng hạn như so sánh hay lựa chọn thông tin. Tất cả hoạt động của
ALU đều dưới sự chỉ đạo của bộ điều khiển.
6. Những chương trình và dữ liệu mà bộ điều khiển và ALU hoạt động trên đó phải nằm ở
bộ nhớ bên trong để được xử lý. Vì thế nếu chương trình và dữ liệu định vị trên những
thiết bị nhớ phụ như đĩa hoặc băng thì ttrước hết chúng phải được nạp vào bộ nhớ bên
trong.
7. Bộ lưu trữ chính và CPU được nối với console ở đó thao tác viên thực hiện điều khiển
bằng tay. Console là một thiết bị quan trọng nhưng có mục đích đặc biệt. người ta sử
dụng console chủ yếu khi máy tính được khởi động hoặc trong thời gian bảo trì và sửa
chữa. Nhiều hệ máy tính mini và máy tính không có console.
UNIT 7: TYPES OF MEMORY (CÁC LOẠI MEMORY)

Ý chính trong bài khoá:
- The most important function of a computer is to hold information in its memory in order to process it.
Chức năng quan trọng nhất của máy tính là lưu giữ thông tin trong bộ nhớ của nó để xử lý.
- Early computer memories had less storage capacity than newer ones.
Các bộ nhớ của các máy tính trước đây có dung lượng nhỏ hơn các máy tính hiện đại.
- The development of chips made it possible for minicomputers and microcomputers to be
invented.
Sự phát triển của vi mạch dẫn tới sự ra đời của máy tính mini và vi tính. - There are at least three different kinds of memory used in computers. Có ít nhất ba loại bộ nhớ khác nhau được dùng trong máy tính.
Bài khoá:
As mentioned previously, one of the most important characteristics of a computer is its capability of storing information in its memory long enough to process it. Not all computers have the same type of memory. In this section, three types of memory will be discussed: core memory, semiconductor memory (or chip), and bubble memory.
The memory of the first computers was made up of a kind of grid of fine vertical and horizontal wires. At each intersection where the wires crossed, there was a small ferrite ring called a core (hence the name "core memory") which was capable of being either magnetized or demagnetized. Every intersection had its unique address: consequently, when an electrical current was passed through the wires, the magnetized as well as the unmagnetized cores were identifted by their respective addresses. Each core represented a binary digit of either 0 or 1, depending on its state. Early computers had a capacity of around 80,000 bits; whereas now, it is not surprising to hear about computers with a memory capacity of millions of bits. This has been made possible by the advent of transistors and by the advances in the manufacture of miniaturized circuitry. As the result, mainframes have been reduced in both size and cost. Throughout the 1950s, 1960s and up to the mid 1970s, core memory dominated the market.
In the 1970s, there was a further development which revolutionized the computer field. This
was the ability to etch thousands of integrated circuits onto a tiny piece (chip) of silicon, which is
a non-metallic element with semiconductor characteristics. Chips have thousands of identical
circuits, each one capable of storing one bit. Because of the very small size of the chip, and
consequently of the circuits etched on it, electrical signals do not have to travel far, hence, they
are transmitted faster. Moreover, the size of the components containing the circuitry can be
considerably reduced, a step which has led to the introduction of both minis and micros. As a
result, computers have become smaller,faster, and cheaper. There is one problem with
semiconductor memory, however: when power is removed, information in the memory is lost
unlike core memory, which is capable of retaining information during a power failure.
Another development in the fteld of computer memories is bubble memory. The concept
which consists of creating a thin film of metallic alloys over the memory board. When this film is
magnetized, it produces magnetic bubbles, the presence, or absence of which represents one bit of
information. These bubbles are extremely tiny, about 0.1 micrometer in diameter. Therefore, a magnetic bubble memory can store information at a greater density than existing memories, which makes it suitable for micros. Bubble memories are not expensive, consume little power, are small in size, and are highly reliable. There is probably a lot more to learn about them, and research in this field continues.
Bài Dịch
1. Như đề cập trước đây, một trong những đặc tính quan trọng nhất của máy tính là khả
năng lưu trữ thông tin trong bộ nhớ của nó có đủ thời gian cần thiết để xử lý. Không
phải tất cả các máy tính đều có một loại bộ nhớ như nhau. Trong phần này ta sẽ thao
luận ba loại bộ nhớ: bộ nhớ lõi, bộ nhớ bán dẫn và bộ nhớ bọt từ.
2. Bộ nhớ của máy tính đầu tiên được chế tạo bằng một loại mạng lưới làm bằng dây kim
loại mảnh đan ngang dọc. Tại mỗi điểm nơi các dây giao nhau có một vòng ferit nhỏ gọi
là lõi (do vậy có tên là bộ nhớ lõi từ) có khả năng từ hoá hoặc khử từ được. Mỗi giao
điểm có một địa chỉ duy nhất, do đó khi dòng điện chạy qua dây, các lõi từ bị hoá cũng
như khử tử được nhận ra qua địa chỉ riêng của chúng. Mỗi lõi từ được tiêu biểu cho một
số nhị phân 1 hoặc 0, tuỳ theo trạng thái của nó. Các máy tính ban đầu có khoảng 80000
bit trong khi đó hiện nay chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi nghe về bộ nhớ hàng triệu bit.
Điều này có thể thực hiện được do sự ra đời của transitor và do sự chế tạo các mạch
được thu nhỏ. Vì thế máy tính cái đã giảm bớt kích cỡ cũng như giá cả. Suốt những năm
50, 60 và cho đến giữa những năm 1970 bộ nhớ lõi từ vẫn chiếm lĩnh trên thị trường.
3. Vào những năm 70, một bước phát triển khác đã cách mạng hoá ngành máy tính. Đó là
khả năng khắc hàng loạt mạch tích hợp lên một mảng silicon nhỏ xíu gọi là chip, silicon
là một chất phi kim loại có đặc tính bán dẫn. Chip có hàng ngàn mạch giống hệt nhau,
mỗi mạch có khả năng trữ một bit. Do kích thước rất nhỏ của chip cũng như các mạch
khắc trên nó, nên tín hiệu dòng điện không phải đi xa, do đó chúng được truyền nhanh
hơn. Hơn nữa kích thước của các thành phần chứa mạch có thể giảm đi đáng kể từ đó
dẫn đến việc ra dời máy tính mini và máy vitính. kết quả là máy tính trở nên nhanh hơn,
nhỏ hơn và rẻ hơn. Tuy nhiên bộ nhớ bán dẫn vẫn là một trở ngại: khi dòng điện bị ngắt,
thông tin trong bộ nhớ sẽ mất đi-không như bộ nhớ lõi từ có khả năng giữ lại thông tin
trong suốt thời gian mất điện.
4. Một bước phát triển khác trong lĩnh vực bộ nhớ máy tính là bộ nhớ bọt từ. Khái niệm
bao gồm cách tạo ra một màng phim mỏng bằng hợp kim lên trên mặt bằng bộ nhớ. khi
màng phim này bị từ hoá, nó tạo thành những bọt từ, sự hiện diện hay vắng mặt của nó
tượng trưng cho một bit thông tin. Những bọt từ này cực nhỏ, đường kích khoảng 0,1
micromet. Vì thế bộ nhớ bọt từ có thể lưu trữ thông tin với mật độ lớn hơn các bộ nhớ
hiện có, điều này làm cho nó phù hợp với máy vi tính. Bộ nhớ từ không đắt tiền tiêu thụ
ít điện, kích thước nhỏ và độ tin cậy cao. Có lẽ người ta vẫn còn học hỏi nghiên cứu
nhiều về lĩnh vực này.
UNIT 8: DISK AND DISK DRIVE (đĩa và ổ đĩa)
Các ý chính trong bài đọc hiểu:
- There are many different types of magnetic disks and disk drives. Có nhiều lọai đĩa từ
và ổ đĩa khác nhau.
- Magnetic disks are of two kinds, namely floppy and hard. Có 2 loại đĩa từ: đĩa mềm và
đĩa cứng.
- Information on a disk is organized in terms of blocks.Thông tin trên điã được tổ chức
thành các khối.
- Recording heads are capable of transferring information from a disk to the memory of
the computer. Đầu ghi có khả năng chuyển thông tin từ đĩa đến bộ nhớ của máy tính.
Bài khoá:
Tapes are an example of sequential-access memory technology; an example of randomaccess or direct-access secondary memory devices is the magnetic disk. It provides a large amount of storage and rapid retrieval of any stored information. All disks are made of substance coated with metal oxide, and can therefore be magnetized.
Magnetic disks are of two kinds, namely floppy and hard. The hard disks, in turn, are subdivided into fixed-head and moving-head disks which are either cartridge or pack. Floppy disks, or diskettes as they are called, are made from plastic, which makes them very light, flexible, are quite inexpensive, whereas hard disks are made from a rigid material.
A disk cartridge is made of a circular disk called a platter, about the same size as a longplaying record, which can be magnetized on both sides. When a number of these circular platters are stacked one on top of the other, they are called a disk pack. How many platters there are in a disk pack varies depending on the manufacturer and the model.
The recording surface of a disk has concentric circles called tracks, which are similar to the grooves in a record. Information is stored on a track in magnetized spots called bits. These bits are similar to the bits in internal memory and are situated on the track such that usually every eight of them make up one byte.
To access information from a cartridge, it is mounted on a disk drive which is equipped
with two recording heads, one for each side of the disk. The heads move radially along a line from
the center to the outside from track to track. To access information from a disk pack, the recording
heads are moved back and forth in the space between the platters by the access arms to which they
are attached.
A stack of track is called a cylinder and it is accessed by all the recording heads acting at once. The recording capacity of a disk pack is measured in terms of a number of cylinders, the number of tracks, and the amount of data in each track.

Information on a disk is organized in terms of blocks, each having its own address, which consists of a cylinder number, a track number, and a record number. To access directly the necessary information, the recording heads first seek the required cylinder, then search to find the begining of the required record, and then transfer the information to the memory of the computer or to another form of storage, all of which is done in a few milliseconds.
Dust and dirt cause the recording condition of disks to deteriorate. As a result, data packs,
which are disks with the recording heads sealed inside, were developed. They are more expensive
than the nonnal disk packs but the drives on which they are mounted are cheaper than the normal
disk drives.
Disk drives are of two kinds: drives with a single non-removable platter, and drives in
which disks can be changed. The latter kind is further subdivided into top-loading single platter,
front-loading single platter, and top-loading multiple platter. Some disk drives open from the top,
where single platter disks are placed. Other drives open in the front and single platter disks, either
hard disks or diskettes, are inserted. For very long storage, the top-loading multiple platter drives
are used.
After being mounted on a disk drive, disks are kept spining at a very high and constant speed, thus allowing the recording heads to have direct access to the required information. For example, the pack on the IBM 3330 spins at 60 revolutions per second.
Bài Dịch
1. Băng từ là một ví dụ về công nghệ bộ nhớ truy cập tuần tự, một ví dụ về tuần tự các bộ nhớ phụ truy cập ngẫu nhiên hoặc truy cập trực tiếp là đĩa từ. Nó cung cấp một số lượng lưu trữ lớn và tìm kiếm nhanh bất cứ thông tin nào đã lưu. Tất cả các đĩa được làm bằng một chất được tráng ô xit kim loại nên có thể từ hoá được.
2. Đĩa từ có hai loại, đĩa mềm và đĩa cứng. Đĩa cứng lần lượt được chia nhỏ thành đĩa có
đầu cố định và đĩa có đầu di động gồm hộp đĩa hay bộ đĩa. Đĩa mềm hay còn gọi là diskette làm
bằng chất dẻo nên nhẹ, không đắt tiền, trong khi đó đĩa cứng được làm từ chất liệu cứng. Hộp đĩa
được làm bằng đĩa tròn hay còn gọi là đĩa ghi, cùng cỡ với một loại đĩa hát có nhiều bài hát, quay
30 phút mỗi mặt, có thể được từ hoá cả hai mặt. Khi một số tấm ghi này được xếp chồng lên nhau,
chúng được gọi là bộ đĩa. Số lượng đĩa trong từng bộ đĩa sẽ thay đổi theo từng nhà sản xuất hoặc
kiểu mẫu.
3. Mặt ghi của đĩa có những vòng đồng tâm gọi là rãnh giống như rãnh trong đĩa hát. Thông tin được lưu trữ trên rãnh được từ hoá gọi là bit. Những bit này giống như bit trong bộ nhớ chính và được định vị trên rãnh sao cho cớ 8 bit tạo thành một byte.
4. Để truy cập thông tin từ một hộp đĩa, gắn nó vào một ổ đĩa có hai đầu thu, mỗi đầu cho một mặt đĩa. Các đầu thu di chuyển toả tròn dọc theo một đường thẳng từ tâm ra phía ngoài theo từng rãnh một. Để truy cập thông tin từ bộ đĩa các bộ thu gắn trên cần truy cập di chuyển tới lui trong khoảng trống giữa những tấm ghi.
5. Một bộ rãnh gọi là trụ và được truy cập bằng tất cả các đầu thu hoạt động đồng thời.. Dung lượng thu của một bộ đĩa được đo bằng số lượng trụ, số rãnh và số bản ghi. Để truy cập thông tin trực tiếp, trước hết các cần thu di chuyển đến trụ được yêu cầu, sau đó lục tìm nơi khởi điểm của bản ghi được yêu cầu rôi sau đó chuyển thông tin vào bộ nhớ của máy tính hay vào dạng lưu trữ của máy khác, tất cả những việc này được thực hiện trong vài mili giây.
6. Bụi bẩn làm cho khả năng ghi và lưu trữ đĩa mau bị xuống cấp. Do đó các bó dữ liệu là những đĩa có đầu thu gắn sẵn bên trong được phát triển. Chúng đắt tiền hơn bộ đĩa bình thường nhưng các ổ đĩa gắn bộ đĩa này sẽ rẻ hơn bộ đĩa bình thường.
7. Ổ đĩa có hai loại: ổ đĩa có tấm ghi đơn cố định và ổ đĩa có thể thay đổi đĩa. Ổ đĩa sau lại
được chia nhỏ thành: tấm ghi đơn nạp trên đỉnh, tấm ghi đơn nạp phía trước và nhiều tấm ghi nạp
trên đỉnh.Một số ổ đĩa mở từ phía trên chỗ đặt các tấm ghi đơn. Những ổ đĩa khác mở từ phía
trước và đĩa tấm ghi, đĩa cứng hoặc đĩa mềm sẽ được lắp vào. Để lưu trữ được lâu, người ta sử dụng ổ đĩa đa tấm ghi nạp trên đỉnh. Sau ghi đĩa được gắn vào, ổ đĩa sẽ quay với tốc độ rất nhanh, cho phép các đầu thu truy cập trực tiếp thông tin cần đến. Ví dụ bộ đĩa trong máy IBM 3330 quay được 60 vòng / giây.
UNIT 9: PRINTER
Ý chính của bài khóa:
- Basically, there are two types of printers: impact and non-impact. Về cơ bản có 2 loại máy in: đập và không đập
- A printed output of the data-processing operation is valuable because it provides a permanent record of the results.
Sản phẩm được in ra của hoạt động xử lý sữ liệu là có giá trị vì nó cung cấp kết quả lưu trữ lâu dài.
- Chain and train printers give a better quality printing than drum printers.
Máy in xích cữ hay chuỗi có chất lượng tốt hơn máy in dùng trống.
- Line printers are much faster than other impact printers.
Các máy in dòng nhanh hơn rất nhiều so với các máy in đập khác.
- Thermal and electrostatic printers are capable of shading, whereas impact printers are not.
Các máy in nhiệt và tĩnh điện có khả năng tạo bóng, trong khi đó các máy in đập thì không
có khả năng này.
- Laser writers are capable of printing more than one line at a time.
Các máy in laze có khả năng in nhiều hơn một dòng một lần in.
Bài khoá:
Printed output, which can be read by humans rather than by a computer, is the most common output. It is two-dimensional, consisting of characters within a line, and lines on a page. One of the most difficult parts of printing output is the reaction of the user to the printed page, because somehow the printed output produces a response from the reader much like that of people to a roomful of new furniture. They have definite ideas where each piece should go, but after seeing it there, they are apt to change their minds. The same occurs when the reader first sees the printed output of a report, for instance.
No matter how simple or complex the data-processing operation is, the final results must be made available in a form usable by humans, and usually in a form of permanent record. This is the purpose of the printers used with computing equipment.
Printers vary in speed, size, and cost, and are designed to meet printing requirements
ranging from roughly the speed and volume of a typewriter up to thousands of lines per minute.
There are two ways of printing: by impact (striking a character through a carbon, like a
typewriter) or non-impact (photocopying, like an office copier). Impact printers are generally a
drum, or a chain or a train. The drum has a spining cylinder for each character position in a line,
and each cylinder contains all the characters in a character set. As each cylinder spins into the
appropriate character position, it is hammered into the paper through a carbon ribbon. Drum
printers generally give the lowest quality printing, because if the hammer hits a little early or late,
the character will appear slightly above or below the line. This is noticeable on a printed line,
giving it a wavy appearance.
In train or chain printers, the characters move lately across the page, and as the proper character moves into position, it is hammered onto the paper through a carbon ribbon. If the hammer hits a little early or late, the character will appear slightly to the right or left of its proper' position, but variations in horizontal spacing are not so noticeable to humans.
Other types of impact printers are the daisy wheel printer, the matrix printer, and the line printer. The daisy wheel printer uses a wheel with up to 100 characters, each being on an individual arm, so that only rotation is needed. The hammer hits a single letter, guaranteeing accurate positioning and uniform striking. This allows fast, quiet, and reliable operation, with superb print quality.
A matrix printer, on the other hand, uses pins to print a pattern of dots on paper. The characters are generated by selecting the appropriate combinations of pins in a rectangle of 5 rows by 7 columns or 9 columns. Each pin is equipped with a coil, which, when energized, throws the pin against the ribbon, printing a dot on the paper. For each character, seven or nine lines of dots have to be printed; however, the inertia is minimal, so fast operation is possible. The general advantages of using matrix printers are relative low cost, high speed, and quiet operation. The main disadvantage is the relatively poor quality of printing, which is sufficiently good for the eye, but not for reproduction or for business letters.
Finally, the printing mechanism in line printers is completely different from matrix printers.
In the line printer, the character set to be printed is on a cylinder where each segment has the full
set of characters in raised form around its edge. All segments are aligned with one another, that is,
all the "As", for example, are in line. Whenever the printer is in print mode, the cylinder is
rotating and each character in the set passes by the line to be printed as one complete revolution of
the cylinder is made. The printer times the movement of a print hammer so that the character on
the cylinder segment is brought into contact with the ribbon and paper. One complete line of
characters is printed during one revolution of the cylinder. It is interesting to note that all the "As"
used in the line are printed first, then all the "Bs", and so on until fmally all the letters that make
up the words have been printed and the line is complete. Whereas 200 to 600 lines per minute
maximum are produced by the other printers, a line printer will operate up to 3,000 lines per
minute.
There are several types of non-impact printers called thermal and electrosensitive printers
(electrostatic printers). These printers use a special chemically treated paper and expose the
characters onto it by some means such as laser. The characters are then fixed onto the paper by
heating it. Because the printing element is simple and has no moving parts, these printers are
inexpensive and silent. These newer devices are also much faster and allow any character set to be
used. In addition to drawing lines and shading, light can be flashed through a translucent slide to
expose a drawing onto the paper. Very fast non-impact printers are capable of rates up to 13,360
lines per minute.
In the largest computer installations, where cost is no longer a consideration, non-impact printers are used for very high speed. An ink jet printer operates by projecting small ink droplets and deflecting them electrostatically. Speeds of 40,000 lines per minute may be achieved. In the laser writer, the paper is charged electrostatically and attracts dry ink powder, as in a Xerox machine. The pattern is then baked in the paper. Many lines are printed simultaneously, and speeds of 20,000 lines per minute can be attained.
Multiple copies of output are often required, and can be produced either by printing the report several times or by using multipart paper, which consists of layers of paper separated by carbon sheets. However, nonimpact printers can not use such multipart paper.
Microfilm is often used as an alternative to the printer. The output is "printed" on microfilm
rather than paper, which, in addition to being faster, also condenses large stacks of paper down
into small amounts of microfilm with no special programming. The drawback of computer output
microfilm (COM) is that it takes a special device to print the microfilm and a special viewer to
read it.
Bài dịch
1. Kết quả xử lý được in ra cho người đọc hơn là cho máy, là kết quả thông dụng nhất. Kết
quả in ra có dạng hai chiều gồm nhiều ký tự trong một hàng và nhiều hàng trong một
trang. Một trong những trở ngại đối với kết quả in ra là phản ứng của người sử dụng đối
với trang in ra, thì dù thế nào kết quả in ra khiến người đọc phản ứng tương tự như khi
người ta phản ứng đối với một phòng đầy đồ đạc mới. Họ sắp xếp mỗi thứ một nơi,
nhưng sau khi họ làm xong họ lại thay đổi ý định. Trường hợp tương tự xảy ra khi người
đọc lần đầu nhìn thấy bản báo cáo in ra.
2. Cho dẫu quá trình xử lý dữ liệu đơn giản hay phức tạp thế nào đi nữa thì kết quả cuối
cùng phải khả dụng đối với con người và thường dưới hình thức hồ sơ lâu dài. Đây
chính là mục đích của máy in được sử dụng với thiết bị tính toán.
3. Máy in khác nhau về tốc độ, kích thước và giá cả, và được thiết kế để đáp ứng nhu cầu
in ấn thay đổi từ tốc độ và khối lượng của máy đánh chữ lên đến hàng ngàn dòng trên
một phút. Có hai phương án in: phương pháp in dập (gõ một ký tự qua lớp giấy than,
như máy đánh chữ), hay phương pháp in không dập (sao chụp như máy copy văn
phòng). Máy in dập thông thường có một trống, xích chữ hoặc chuỗi. Trống có một trục
xoay cho từng vị trí ký tự trên một dòng, và mỗi trụ có tất cả các ký tự trong bộ chữ. Khi
mỗi trục xoay đến vị trí chữ thích hợp, nó được đánh lên giấy qua băng các bon. máy in
trống thường có bản in có chất lượng thấp nhất, và nếu đánh sớm hay trễ một chút, ký tự
sẽ hiển thị ở trên hay dưới hàng. Điều này làm cho dòng in có dạng sóng.
4. Trong máy in xích chữ hay chuỗi, các ký tự di chuyển dọc theo trang giấy, và khi chữ
thích hợp đến đúng vị trí, nó đánh lên giấy qua băng các bon. Nếu đánh hơi sớm hay trễ
một chút, ký tự sẽ hiển thị hơi lệch qua phải hay trái so với vị trí của nó nhưng những
khoảng thay đổi theo chiều ngang không dễ gì nhận ra.
5. Các loại máy in dập khác máy in xích chữ, máy in ma trận điểm và máy in dòng. Máy in
xích sử dụng một bánh xe có tới một trăm ký tự, mỗi ký tự gắn lên một cần riêng sao
cho cần chỉ xoay bánh xe là đủ. Búa gõ một ký tự, bảo đảm ngắm đúng vị trí và gõ đều.
Điều này cho phép thao tác nhanh, êm và đáng tin cậy, với chất lượng in tuyệt hảo.
6. Mặt khác, máy in ma trận sử dụng kim để in mẫu các điểm lên giấy. Ký tự được tạo ra
bằng cách chọn sự kết hợp của các kim phù hợp trong một hình chữ nhật có năm hàng
và bảy cột hay chín cột. Mỗi kim trang bị một cuộn dây, khi được truyền điện, nó phóng
kim dập vào băng, in lên giấy một chấm. Mỗi chữ phải in bảy hoặc chín hàng điểm, tuy
nhiên quán tính rất nhỏ nên có thể vận hành rất nhanh. Ưu điểm khhi sử dụng máy in ma
trận điểm là giá cả tương đối thấp, tốc độ cao và vận hành êm. Bất lợi chính là chất
lượng in hơi kém, chỉ để xem chứ không sao chụp hay dùng trong thư tín thương mại
được.
7. Sau cùng, kỹ thuật in trong máy in dòng hoàn toàn khác hẳn với máy in ma trận. Trong
máy in dòng, bộ chữ in gắn ngay trên trụ ở đó mỗi phần đều có một bộ chữ đầy đủ nổi
lên xung quanh mép của nó. Tất cả các phần được canh thẳng hàng. Ví dụ như chữ A
đều nằm trên một hàng. Khi máy in để ở chế độ in thì trụ xoay và mỗi chữ trong bộ sẽ
lăn qua dòng in sau một vòng xoay. Máy in tính toán thời gian chuyển động của búa đập
để chữ trong mõi đoạn trên trụ tiếp xúc với băng và giấy. Một dòng chữ hoàn chỉnh
được in ra trong thời gian trụ quay một vòng. Điều đáng ghi nhận là tất cả các chữ a
được in rồi đến chữ b.. cho đến cuối cùng tất cả các mẫu tự tạo thành chữ được in và thế
là xong một dòng. trong khi tất cả các máy in khác in từ 200 đến 600 dòng một phút là
tối đa thì máy in dòng in tới 3000 dòng một phút.
8. Có nhiều loại máy in không đập gọi là máy in nhiệt và máy in tĩnh điện. Các máy in này
sử dụng một loại giấy đặc biệt đã được sử lý hoá chất và phơi các chữ trên giấy bằng
laze. Sau cùng các ký tự bám vào giấy khi nóng lên. Do cơ cấu in đơn giản và không có
bộ phận nào chuyển động nên những máy in này không đắt tiền và chạy rất êm. Các
thiết bị mới này cũng nhanh hơn nhiều và cho phép sử dụng bất kỳ bộ chữ nào. Ngoài
việc vẽ các đường và tạo bóng, nguồn sáng có thể xuyên qua con trượt trong suốt để
phơi bản vẽ lên giấy. Các máy in không dập với tốc độ cực nhanh có khả năng in tới
13.360 dòng một phút.
9. Tại các trung tâm máy tính lớn nhất ở đó giá cả không còn là vấn đề, người ta sử dụng
máy tính in phun dùng phương pháp không đập với tốc độ rất cao. Máy in phun mực
vận hành bằng cách phun những giọt mực nhỏ và chuyển nó theo dòng tĩnh điện, có thể
đạt được tốc độ 40.000 dòng một phút. Trong máy in laze, giấy được sạc tĩnh điện và
hấp thụ bột mực khô như trong máy chụp Xerox. Sau đó màu in được nung trên giấy.
Cùng một lúc có thể in nhiều dòng và đạt đến tốc độ 20000 dòng một phút.
10. Thông thường chúng ta cần nhiều bản sao và có thể tạo ra bằng cách in bản báo cáo
nhiều lần hay sử dụng giấy nhiều lớp có lớp giấy lót các bon ở giữa. Tuy nhiên máy in
không đập không thể sử dụng giấy nhiều lớp như thế.
11. Vì phim thường được sử dụng làm dụng cụ thay thế cho máy in. Kết quả được in lên
phim thay cho giấy, ngoài việc nhanh hơn còn cô đọng các xấp giấy lớn thành số lượng
nhỏ vi phim mà không cần lập trình đặc biệt. Khuyết điểm của vi phim ghi dữ liệu ra từ
máy tính là phải dùng một dụng cụ đặc biệt để in vi phim và một máy rọi đặc biệt để
đọc phim. Vòng lặp hay sự lặp lại cho phép một số các bước được lặp lại cho tới khi điều kiện được thoả mãn. Điều quan trọng là mỗi một vòng lặp bao gồm một điều kiện để dừng được vòng lặp tiếp tục mãi.
Nếu điều kiện được kiểm tra ở ngay đầu vòng lặp, nó được gọi là vòng lặp được kiểm định trước hay vòng lặp được giám định.
UNIT 10: TERMINALS (Thiết bị đầu cuối)
Ý chính của bài khoá:
- Modern terminals have numerous features which can be of use in computer-assisted instruction.
Các thiết bị đầu cuối hiện đại có rất nhiều tính năng có thể được sử dụng trong các lệnh trợ giúp của máy tính.
- The development of CRT terminals helped reduce the problem of wasted paper.
Sự phát triển các thiết bị đầu cuối CRT giúp giảm hẳn vấn đề lãng phí giấy.
- Terminals with video screens and hard copy output are useful for checking student record.
Các thiết bị đầu cuối với màn hình video và đ ầu ra có thể sao chép hữu ích với việc kiểm
tra các bài lưu của sinh viên.

Bài Khoá:
As central computers became faster and more powerful, it was possible to establish many remote display stations from which operators could all use the same computer to display information and enter data. Later, even the small machines were equipped with a fairly large display screen and keyboard oriented towards use by a person with limited training, rather than by a highly skilled computer operator.
For many interactions with computers a permanent record is unnecessary; therefore, output that is scanned once and then thrown away proceduces a lot of wasted paper. To solve this problem cathode ray tube (CRT) terminal can be used. In addition to eliminating paper waste, these terminals are completely silent and frequently much safer than hard-copy terminals. Because of their speed and quietness, CRT tenninals are very useful interactive devices for use in offices and in other areas. The electronic circuitry used in them is very much the same as that in the familiar TV (video) set.
These display terminals are diverse and colourful. The original video output was singlecolour (black and white) upper-case letters, but in more highly developed devices, lower-case letters can be displayed, and some give options of blinking and dual-density characters. Certain screens can produce "negative" (dark) characters on a bright' background or even make each character a different colour, if so desired. The latter is an important feature in order to catch someone's attention when a value is abnormal.
More sophisticated screens can generate continuous lines for graphic displays. The simplest of these are monochromatic and may have: strictly limited graphic applications. For example, they may use special characters strung together in order to form lines that look continuous, or they may be restricted regarding the number and the shape of curves that can be drawn at once. Multicolour pictorial graphics are extremely useful in emphasizing contrast, and have been used with good result in nuclear medicine, where differences in intensity would be too subtle if shades of only one colour were used.
The full power of visual display terminals may soon be realized. Already dynamic (motion)
graphics output devices that display simple changing scenes have been developed for flight trainers and computer-generated movies. These devices could have an important impact on the use of computer-assisted instructions (CAI) techniques in school and colleges.
Besides screens, a wide variety of devices called plotters and are used to produce permanent copies of graphics output. The fIrst plotter developed used a pen that moved back and forth across the rotating drum to which paper was attached. These devices produced results which were both quite accurate and reasonably fast. Other plotters featuring a moving pen in two dimensions are relatively slow, because not only are they mechanical devices, but also most can produce only one continuously line at a time. However, the modem electrostatic plotter, an extension of the previously mentioned electrostatic printer, can obtain slightly less artistic results in seconds because it doesn't depend on a moving pen. This is because it electronically generates patterns of dots in a line across the page to make up a picture.
Graphic output may be an effective alternative to high-speed hard-copy output where graphs are more useful than columns of numbers for showing results. Most of the time, a graph is not only better than columns and pages of printed numbers, but also has the advantages of being quicker to produce and easier to understand and file. Pen plotters have been used a great deal in scientific research, where results are often expressed in terms of graphs.
In recent years, new output devices have been developed to bridge the gaps between the various devices just described. For instance, terminals with both video screen and hard-copy output are now available. These devices don't waste paper, since hard copy is produced only when a permanent record is needed. Terminals of this nature are used in applications where relevant personal data is needed which can be corrected or edited on a screen before a hard copy is made. University registration or patient registration are two areas where these devices save time and money, because a new hard copy need be produced only if something has changed from the previous registration or visit.
Finally, there are electrostatic printer-plotters available which produce both print and
graphic displays with equal facility. It is possible with these devices to change the style and size
of the letters at the users'wish and to have graphs and displays interspersed between the printed
lines.
It is therefore very clear that in modern times, the converging technologies of printers, plotters, and graphic displays have resulted in the creation of a few hybrid devices capable of doing many things.



Bài dịch
1) Do máy tính trung tâm ngày càng trở nên nhanh hơn và mạnh hơn nên có thể thiết bị lập
nhiều trạm hiển thị từ xa, từ những trạm này thao tác viên có thể sử dụng cùng máy tính
đó để hiển thị thông tin và nhập số liệu. Sau này ngay cả máy nhỏ cũng được trang bị
màn hình tương đối lớn và bàn phím cho những người sử dụng có trình độ sử dụng giới
hạn hơn là cho những thao tác viên máy tính có kỹ thuật cao.
2) Do tác dụng tương hỗ của nhiều máy tính nên không cần đến những bản ghi thường trực,
vì thế kết quả in ra chỉ xem một lần rồi bỏ đi đã gây lãng phí giấy. Để giải quyết vấn đề này người ta sử dụng thiết bị đầu cuối ống tia ca toót. ngoài việc tránh gây lãng phí giấy, nhưng thiết bị đầu cuối này hoàn toàn không gây tiếng động và nhanh hơn so với các thiết bị đầu cuối bản sao cứng. nhờ tốc độ và không gây tiếng động, thiết bị đầu cuối này là thiết bị tương tác hữu ích khi dùng trong văn phòng và nhiều lĩnh vực khác. Mạch điện sử dụng trong thiết bị này rất giống mạch điện tivi quen thuộc.
3) Các thiết bị đầu cuối bằng màn hình này đa dạng và nhiều màu sắc. Kết quả in ra bằng
video ban đầu là đơn sắc, nhưng trong các thiết bị cao hơn, chữ thường được hiển thị và
một số các thiết bị cho phép chọn các ký tự nhấp nháy và hai mật độ. Một số màn hình
có thể hiển thị ký tự âm bản trên một nền sáng hay làm cho mỗi ký tự có một màu khác
nhau nếu muốn. Đặc tính sau quan trọng hơn vì nó thu hút sự chú ý của người khác khi
có một giá trị cần quan tâm.
4) Màn hình phát triển ngày càng tinh vi có thể tạo ra những đường liên tục để hiển thị
hình ảnh. Loại màn hình đơn giản nhất là màn hình đơn sắc và có thể có các các ứng
dụng đồ hoạ giới hạn. Ví dụ chúng có thể có các ứng dụng đồ hoạ giới hạn. Ví dụ chúng
có thể dùng các ký tự đặc biệt gắn với nhau để tạo thành những đường có vẻ liên tục,
hay chúng có thể được giới hạn tuỳ theo số lượng và dạng đường cong có thể vẽ được
ngay. Đồ hoạ nhiều màu sắc cực kỳ hữu ích trong việc nhấn mạnh sự tương phản, và đã
được sử dụng với nhềi kết quả tốt trong lĩnh vực hạt nhân, ở đó sự khác biệt và cường
độ rất khó nhận ra nếu sử dụng bóng của một màu duy nhất.
5) Chẳng bao lâu nữa người ta sẽ sử dụng hết khả năng của thiết bị màn hình hiển thị. Các
kết quả cho đồ hoạ động hiển thị các cảnh thay đổi đơn giản và được phát triển cho
huấn luyện bay và quay phim bằng máy tính (kỹ thuật CAL dùng trong các trường trung
học và cao đẳng).
6) Ngoài màn hình ra, nhiều loại thiết bị khác gọi là máy vẽ được sử dụng để cho ra kết
quả đồ thị vĩnh cửu. Các máy vẽ đầu tiên được phát triển sử dụng bút vẽ di chuyển tới
lui trên một trống quay có gắn giấy. Các thiết bị này cho ra kết quả hoàn toàn chính xác
và tương đối nhanh. Các máy vẽ khác có một bút vẽ di dộng trên mặt phẳng hai chiều
thì tương đối chậm vì chúng không những là thiết bị cơ mà hầu hết mỗi lần chỉ có thể
tạo ra một đường liên tục duy nhất. Tuy nhiên máy vẽ tĩnh điện tối tân, một bước phát
triển của máy tĩnh điện trước đây có thể có kết quả ít tính nghệ thuật chỉ trong vài giây
vì nó không phụ thuộc vào bút vẽ di động. Điều này là do nó tạo bằng điện tử các dạng
điểm trong một hàng trên giấy để tạo thành hình vẽ.
7) Kết quả đồ hoạ là một thay thế hữu dụng đối với kết quả bản sao cứng tốc độ cao, ở đó
đồ thị không những là các cột và trang in tốt hơn mà còn có ích lợi là làm ra nhanh hơn,
dễ hiểu và dễ lưu hồ sơ hơn. Máy vẽ dùng bút đã được sử dụng nhiều trong nghiên cứu
khoa học là lĩnh vực mà kết quả thường được thể hiện bằng đồ thị.
8) Trong những năm gần đây cá thiết bị đầu xuất mới đã được phát triển để lấp chỗ trống
cho những thiết bị khác nhau kể trên. Ví dụ như hiện nay các thiết bị đầu cuối có màn
hình video lẫn kết quả bản in đều khả dụng. Các thiết bị này không gây lãng phí giấy vì
bản in chỉ được tạo ra khi cần hồ sơ lâu dài. Các thiết bị đầu cuối có đặc tính này được
dùng trong các ứng dụng cần đến số liệu cá nhân liên quan, số liệu này có thể được sửa
chữa và hiệu chỉnh trên màn hình trước khhi thực hiện bản in. Đăng ký Đại học hoặc
đăng ký khám bệnh là hai lĩnh vực mà thiết bị này giúp tiết kiệm thời gian tiền bạc vì
chỉ cần tạo ra một bản in mới nếu có gì thay đổi từ lần đăng ký hay khám bênh trước đó.
9) Sau cùng có những máy vẽ tĩnh điện nhiều chức năng vừa in lẫn hiển thị đồ thị với
phương tiện như sau. Các thiết bị này có thể thay đổi kiểu, kích thước ký tự theo ý
người sử dụng, bên cạnh đó có ồ thị và hình ảnh xen kẽ giữa những dòng in.
10) Rõ ràng trong thời đại hiện đại, công nghệ tập trung sản xuất máy in, máy vẽ và màn
hình đồ hoạ đã đưa đến kết quả sáng tạo một số thiết bị kết hợp có khả năng thực hiện
nhiều việc

Xem lý lịch thành viên http://hoaibao.forumvi.com

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang  Thông điệp [Trang 1 trong tổng số 1 trang]

Permissions in this forum:
Bạn không có quyền trả lời bài viết